Những phương pháp đo lường được sử dụng trong các nghiên cứu lâm sàng về sụt cân trong ung thư

Đối với người bệnh ung thư, mục tiêu chung của điều trị dinh dưỡng là để ngăn ngừa hoặc đảo ngược chứng sụt cân đi kèm với bệnh, để duy trì hoạt động thể chất, và để ổn định hay cải thiện chất lượng cuộc sống.

Khi người bệnh bị sụt cân do ung thư được điều trị dinh dưỡng, cả tiêu chí chủ quan lẫn khách quan đều được dùng để đo lường các tác động.

Các phương pháp đo kết quả thường được sử dụng trong các nghiên cứu lâm sàng liên quan đến điều trị dinh dưỡng bệnh nhân ung thư bao gồm:

Các đo lường kết quả truyền thống

  • Thể trọng
  • Thành phần cơ thể  (khối cơ thể nạc)
  • Cảm giác ngon miệng
  • Lượng thức ăn đưa vào

Các đo lường kết quả hướng đến người bệnh

  • Tình trạng chức năng (Tình trạng Hoạt động theo Thang Karnofsky)
  • Sức nắm chặt của bàn tay
  • Mức độ hoạt động thể chất
  • Chất lượng sống (EORTC QLQ-30)

Các đo lường kết quả truyền thống

Thể trọng

Sụt cân là một chỉ số tiên lượng quan trọng ở bệnh nhân ung thư, đặc biệt về thời gian sống. Ví dụ, sụt cân chỉ ở mức 5% sẽ đi kèm với sự giảm đáp ứng trị liệu và tỉ lệ sống (Ở một người nặng 70 kg, mức sụt giảm thể trọng 5% là 3,5 kg). Tăng cân là mục tiêu của can thiệp dinh dưỡng. Tuy nhiên, để bảo đảm rằng cân nặng tăng thêm không phải là do sự giữ dịch hay tăng tích trữ mô mỡ, tăng cân phải được củng cố bằng tăng khối cơ thể nạc.

dieu-tri-ung-thu

Thành phần cơ thể

Các bệnh nhân ung thư thường mất khối nạc cơ thể do hậu quả của căn bệnh. Sụt cân, đặc biệt là khối nạc cơ thể, có liên quan đến sự đáp ứng kém với trị liệu, giảm chất lượng sống và giảm thời gian sống. Do đó, điều quan trọng là đánh giá khối nạc cơ thể cũng như tổng thể trọng để cung cấp một một ước tính có giá trị về tình trạng dinh dưỡng. Phân tích trở kháng điện sinh học (Bioelectrical impedance analysis – BIA) là một phương pháp đo lường thành phần cơ thể, trong đó một cái máy truyền một dòng điện nhỏ qua cơ thể để xác định điện trở của các mô, từ đó cho phép ước lượng tổng lượng nước cơ thể. Khối cơ thể nạc và mỡ có thể được tính từ thông tin này bởi vì cơ hầu như là nước và nước thì là chất dẫn điện tốt hơn mô mỡ. Khối cơ chiểm ~ 60% khối cơ thể nạc.

Cảm giác ngon miệng và lượng thức ăn đưa vào

Cảm giác ngon miệng có thể được đánh giá bằng cách ghi lại mức độ đói theo một thang đo từ không quá đói (0) đến rất đói (100). Những ghi chép như vậy có thể cho thấy những thay đổi cảm giác ngon miệng theo thời gian nhưng không cho thấy tình trạng dinh dưỡng thực sự.

Tương tự, lượng thức ăn đưa vào có thể được ước lượng bằng cách sử dụng "Nhật ký thực phẩm ăn vào" ở các bệnh nhân, ghi lại mọi thứ mà họ ăn uống trong 3 ngày. Các chuyên gia chăm sóc sức khỏe sử dụng các thông tin này để xác định số lượng năng lượng, protein và các dưỡng chất khác mà bệnh nhân đã tiêu thụ trong khoảng thời gian đó.

Các đo lường kết quả hướng đến người bệnh

Sự chú trọng trong chăm sóc bệnh nhân đang mở rộng ngoài các thông số khách quan, như các số đo sinh hóa và thời gian sống, để bao gồm các kết quả khác đặc biệt quan trọng cho bệnh nhân – tình trạng chức năng và chất lượng sống. Các số đo kết quả này được gọi là các đo kết quả hướng bệnh nhân làm trọng tâm. Một số phương pháp được sử dụng để đánh giá các kết quả hướng đến bệnh nhân được mô tả dưới đây.

Tình trạng chức năng

Tình trạng chức năng là một số đo để đánh giá khả năng hoạt động độc lập của một bệnh nhân – làm việc và thực hiện các sinh hoạt hàng ngày. Tình trạng Chức năng theo Karnofsky được đo lường từ 0 (tắt thở hay chết) đến 100 (hoạt động bình thường) (xem Bảng dưới đây). Điểm số 60 cho biết bệnh nhân đôi lúc cần sự trợ giúp trong các sinh hoạt hàng ngày, nhưng vẫn có thể tự lo cho hầu hết các nhu cầu.

Tình trạng Chức năng theo Thang Karnofsky

Điểm

Thể hiện

100

Bình thường. Không than phiền, không có bằng chứng bệnh tật

90

Có thể tiến hành các hoạt động bình thường, có các dấu hiệu hoặc triệu chứng nhẹ của bệnh

80

Hoạt động bình thường với sự cố gắng, có một số dấu hiệu hoặc triệu chứng của bệnh

70

Tự chăm sóc bản thân, không thể tiến hành các sinh hoạt bình thường trong nhà hay làm công việc có tính chất hoạt động

60

Đôi khi cần trợ giúp nhưng có thể tự chăm sóc đa số các nhu cầu của bản thân

50

Cần trợ giúp nhiều và chăm sóc y tế thường xuyên

40

Mất khả năng hoạt động: cần chăm sóc và trợ giúp đặc biệt

30

Mất khả năng hoạt động trầm trọng; cần nhập viện, nhưng chưa phải sắp chết

20

Bệnh rất nặng; cần nhập viện, cần hỗ trợ điều trị tích cực

10

Hấp hối; tiến trình chết tiến rất nhanh

0

Chết

 

do-luong-ung-thu

Sức nắm chặt (Strength)

Sức nắm chặt của bàn tay là số đo của chức năng cơ xương. Sử dụng lực kế (dynamometer) là một phương pháp đơn giản, mau chóng, không xâm lấn và đỡ tốn kém để đánh giá. Sự gia tăng sức nắm chặt phản ảnh sự cải thiện chức năng và sức mạnh của cơ.

do-luong-ung-thu

Mức hoạt động thể chất (Physical activity level – PAL)

Điểm PAL cung cấp một số đo khách quan cho tình trạng hoạt động. Đo PAL được tiến hành trong phòng thí nghiệm, khá phức tạp, tốn công, tốn tiền, do đó PAL được sử dụng như một công cụ nghiên cứu chứ không dùng trong thực hành lâm sàng thường quy. PAL được tính toán bằng đẳng thức sau:

PAL tổng mức tiêu phí năng lượng (Total Energy Expenditure – TEE) /mức tiêu phí năng lượng khi nghỉ ngơi (Resting Energy Expenditure – REE).

TEE được đo bằng việc đánh giá sự chuyển hóa của nước với kỹ thuật “nước đánh dấu kép”.Trong kỹ thuật này, bệnh nhân uống nước được đánh dấu bằng các chất đồng vị phóng xạ, và sau đó nước tiểu của bệnh nhân được thu lại trong 24 giờ. Xuất lượng chất đồng vị trong nước tiểu được đo lường và thông tin này được dùng để xác định tổng số lượng năng lượng (TEE) mà bệnh nhân đã sử dụng trong một ngày.

REE được đo bằng phương pháp đo năng lượng gián tiếp, nghĩa là sử dụng một mũ trùm để đo sự tiêu thụ oxygen và sự sản sinh carbon dioxide của bệnh nhân trong một khoảng thời gian cố định. Một tỉ số TEE:REE thấp phản ánh PAL thấp – một quan sát thường thấy đối với bệnh nhân ung thư.

Bệnh nhân càng hoạt động thể lực nhiều, thì điểm PAL càng cao.

Thang điểm PAL:

1.8            Mức hoạt động cao (thí dụ, một cá nhân tập thể dục sôi nổi)
1.5            Mức hoạt động tĩnh tại bình thường (thí dụ, một cá nhân làm công việc văn phòng)
1.2–1.3     Quanh quẩn bên giường (rất ít hoạt động hay tập thể dục)
1.1            Sắp chết
1.0            Chết

Chất lượng sống (Quality of Life – QoL)

Duy trì chất lượng sống là rất quan trọng đối với bệnh nhân ung thư. Sự sụt cân và khối nạc cơ thể có thể tác động đến chất lượng sống. Chẳng hạn như, sụt giảm khối nạc cơ thể đưa đến yếu ớt và mệt mỏi, có thể góp phần vào sự suy sụp tâm l‎ý. Và điều này lại cản trở khả năng và/hay sự sẵn sàng của bệnh nhân tham gia các hoạt động vốn đã từng đem lại mục tiêu và chất lượng sống của họ. Bệnh nhân ăn không ngon miệng, không còn thích thú với  các khía cạnh xã hội của việc ăn uống, và sự suy giảm có liên quan đến chất lượng sống.

Silvestri và cộng sự đã hỏi 81 bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ trải qua hóa trị với phác đồ dựa trên cisplatin “Lợi ích sống còn tối thiểu nào sẽ dùng để biện minh cho việc chấp nhận các tác dụng phụ của hóa trị trong quá trình điều trị căn bệnh giai đoạn tiến triển?”. Chỉ 22% bệnh nhân chọn hóa trị thay vì chỉ chăm sóc nâng đỡ để có lợi ích sống thêm 3 tháng. Ngược lại, 68% chọn hóa trị nếu nó sẽ giảm đáng kể các triệu chứng – thậm chí không cần kéo dài cuộc sống.

Nghiên cứu QOL bao gồm hai lĩnh vực chính: (1) các tham số liên quan đến sức khỏe và (2) các yếu tố xác định sức khỏe rộng hơn (các yếu tố kinh tế và xã hội).

Có nhiều công cụ khác nhau để đo QOL như EORTC QLQ-C30, EuroQOL EQ-5S, ECOG.
EORTC QLQ-C30 là một bảng câu hỏi chất lượng sống đa hướng, đặc hiệu cho bệnh ung ‎thư được phát triển bởi Nhóm nghiên cứu về Chất lượng sống của Tổ chức Nghiên Cứu và Điều Trị Ung Thư Châu Âu (European Organization for Research and Treatment of Cancer – EORTC). EORTC QLQ-C30 bao gồm các thang chức năng (hoạt động thể chất, cảm xúc, xã hội và nhận thức); các thang triệu chứng (mệt mỏi, đau, buồn nôn và nôn); thang tình trạng sức khỏe chung và chất lượng sống; đánh giá các triệu chứng khác (khó thở, rối loạn giấc ngủ, táo bón, tiêu chảy) và tác động tài chính được cảm nhận. Ở EORTC QLQ-C30, bệnh nhân được yêu cầu trả lời các câu hỏi như “Bạn có gặp rắc rối khi đi bộ lâu không?” và “Trong tuần rồi, bạn có cảm thấy buồn nôn không?” bằng cách đánh dấu vào một trong các điểm số từ 1-4 (1 = hoàn toàn không có; 2 = ít; 3 = kha khá; 4 = rất nhiều).

Tổng kết các Đo lường Kết quả được sử dụng trong các nghiên cứu lâm sàng về sụt cân trong ung thư

Đo kết quả

Cách đo

Tầm quan trọng

Thể trọng

Cân trọng lượng

Chỉ báo quan trọng về thời gian sống (mức sụt cân 5% có liên quan đến ↓ thời gian sống)

Thành phần cơ thể

Phân tích trở kháng điện sinh học (BIA)

Sụt giảm khối nạc cơ thể đưa đến ↓chất lượng sống và thời gian sống

Cảm giác ngon miệng

Thang đo mức độ đói của bệnh nhân từ 100 (rất đói) đến 0 (không đói)

Cho phép đánh giá cảm giác ngon miệng theo thời gian

Lượng nhập thức ăn

Nhật ký thức ăn

Được sử dụng bởi các chuyên gia dinh dưỡng để đánh giá lượng nhập chất dinh dưỡng của bệnh nhân

 

Tổng kết các Đo lường kết quả hướng đến bệnh nhân được sử dụng trong các nghiên cứu lâm sàng về sụt cân trong ung thư

Đo kết quả

Cách đo

Tầm quan trọng

Tình trạng Hoạt động theo Thang Karnofsky

Thang đo từ 0 (chết) đến 100 (hoạt động bình thường)

Được sử dụng để đánh giá khả năng hoạt động, khả năng thực hiện sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân

Sức nắm chặt

Lực kế đo nắm tay

Đo lường sức mạnh và chức năng của cơ xương 

Mức hoạt động thể chất (PAL)

TE/REE: TEE được đo lường bằng kỹ thuật nước đánh dấu kép; REE được đo bằng phương pháp đo calori gián tiếp

Số đo của mức hoạt động thể chất và tình trạng chức năng.

Chất lượng sống (QoL)

EORT QLQ-C30 (công cụ đo chất lượng sống đặc hiệu ung thư); EuroQoL EQ-5D (công cụ đo chất lượng sống cho dân số bình thường)

Số đo chủ quan các mục tiêu hướng đến bệnh nhân về chất lượng sống