Eicosapentaenoic Acid (EPA) trong can thiệp dinh dưỡng đối với chứng sụt cân do ung thư

EPA đã được giới thiệu như là một bổ sung dinh dưỡng cho người bệnh ung thư bởi vì nó làm giảm các bất thường chuyển hóa của suy mòn do ung thư và được chứng minh giúp ổn định cân nặng.

Các thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh rằng tăng nhập thức ăn thường không hiệu quả để điều trị suy mòn do ung thư.

Nghiên cứu của Ovesen trên 105 bệnh nhân ung thư vú, ung thư buồng trứng, và ung thư phổi tế bào nhỏ được phân đôi ngẫu nhiên nhận tư vấn dinh dưỡng để tăng lượng nhập calori lên 1.5 đến 1.7 lần mức tiêu hao năng lượng lúc nghỉ hoặc không nhận tư vấn dinh dưỡng. 

Kết quả là mặc dù những bệnh nhân nhận tư vấn dinh dưỡng có sự gia tăng khẩu vị và lượng thức ăn đưa vào, nhưng vẫn không nhận được lợi ích có ý nghĩa về việc tăng cân nặng, tăng khối cơ thể nạc, hay cải thiện chất lượng cuộc sống.

dinh-duong-ung-thu

sụt cân và suy mòn do ung thư là kết quả của nhập năng lượng không đầy đủ, chi tiêu năng lượng khi nghỉ (REE) tăng, và sự tương tác phức tạp của nhiều chất trung gian chuyển hóa, điều trị chỉ có thể thành công khi những thay đổi chuyển hóa bên dưới được khắc phục. Việc đưa vào cơ chất có hoạt tính chuyển hóa eicosapentaenoic acid (EPA) trong chế độ ăn đã được công nhận làm giảm các cơ chế viêm gây nên các xáo trộn chuyển hóa của suy mòn do ung thư.

EPA là một acid béo đa không no chuỗi dài (long-chain polyunsaturated fatty acid – PUFA) của gia đình omega-3 (n-3) và được tìm thấy trong tự nhiên ở các loài cá vùng biển sâu (như cá hồi, trích, mòi). EPA đã được giới thiệu như là một bổ sung dinh dưỡng cho người bệnh ung thư bởi vì nó làm giảm các bất thường chuyển hóa của suy mòn do ung thư và được chứng minh giúp ổn định cân nặng.

Cấu trúc hóa học của eicosapentaenoic acid (EPA)

eicosapentaenoic-acid

Eicosapentaenoic Acid

Cơ Chế Tác Động

Bổ sung EPA làm giảm sự sản xuất các cytokine gây viêm như IL-1, IL-6 và TNF-a và làm giảm hoạt động của PIF

suy-mon-ung-thu

Cơ xương

Các khối u sản xuất và phóng thích một glycoprotein là proteolysis-inducing factor (PIF) vào trong tuần hoàn. PIF tương tác với cơ xương và làm trung gian cho việc mất khối cơ thể nạc qua các cơ chế liên quan đến giảm sản xuất protein và tăng thoái giáng protein. Sự gắn PIF vào các receptor trên bề mặt các tế bào cơ xương dẫn đến phóng thích arachidonic acid (AA) từ phospholipids màng. AA được chuyển hóa thành prostaglandin E2 và các eicosanoids khác. Một trong các chất chuyển hóa (15-hydroxyeicosatetraenoic acid) đóng vai trò một chất trung gian nội bào làm tăng sự thoái giáng các protein sợi cơ qua con đường ly giải protein ubiquitin-proteasome. Với việc cung cấp EPA, thành phần AA màng tế bào được thay thế một phần bằng EPA, dẫn đến giảm khả năng phóng thích các chất trung gian eicosanoid của quá trình thoái giáng protein. Điều trị trước bằng EPA loại bỏ hoàn toàn tác động gây suy mòn của PIF và cũng ngăn ngừa sụt cân ở chuột mang ung thư.

dinh-duong-ung-thu

Các đại thực bào

Giống như trong tế bào cơ xương, các nguồn acid béo ảnh hưởng đến thành phần của lớp phospholipid kép trong màng đại thực bào. Sự thế chỗ AA bởi EPA đã được chứng minh làm thay đổi các hệ thống tín hiệu thứ cấp bên trong đại thực bào, do đó làm giảm sự sản xuất các cytokine viêm.

dieu-tri-ung-thu

EPA cạnh tranh arachidonic acid cho các men cyclo-oxygenase (COX) và lipoxygenase (LOX) để chuyển thành các eicosanoid. Các eicosanoid hình thành từ arachidonic acid có tính gây viêm, trong khi các eicosanoid được hình thành từ EPA có tính kháng viêm

dieu-tri-ung-thu

Nghiên Cứu Lâm Sàng về EPA

Nghiên cứu của Wigmore, 1996.

Wigmore và cộng sự đã nghiên cứu 18 bệnh nhân ung thư tụy không thể cắt bỏ có suy mòn để xác định tác động của dầu cá lên cân nặng. Các viên dầu cá được dùng với liều khởi đầu 2g/ngày và tăng mỗi tuần 2g/ngày đến liều tối đa 16g/ngày. Liều tối đa trung bình suốt nghiên cứu là 12 g dầu cá/ngày, tương đương 2g EPA/ngày. Nồng độ EPA huyết tương tăng từ mức không phát hiện trước khi bổ sung đến mức 5,3% (3,5% - 6,2%) của tổng lượng các acid béo sau 1 tháng bổ sung.

Trước khi bổ sung, các cá nhân có giảm cân trung bình 2,9 kg/tháng. Một sự thay đổi cân nặng 0,3 kg/tháng được quan sát sau thời gian 3 tháng bổ sung. 11 bệnh nhân tăng cân, 3 ổn định cân nặng, và 4 tiếp tục sụt cân nhưng với tốc độ giảm. Tổng lượng nước cơ thể không thay đổi trong quá trình nghiên cứu, chỉ ra rằng sự ổn định hay tăng cân nặng quan sát được không phải do giữ nước. Việc uống bổ sung dầu cá kìm hãm sụt cân và đã làm thay đổi sự tiến triển của suy mòn trong nhóm bệnh nhân ung thư tụy.

dieu-tri-ung-thu

Nghiên cứu của Wigmore, 2000.

Trong một nghiên cứu tiếp sau, Wigmore và cộng sự đánh giá tác động của bổ sung viên EPA tinh khiết (EPA 500mg/viên) ở bệnh nhân ung thư tụy tiến triển không điều trị và đang sụt cân. Trong nghiên cứu 12 tuần này, 26 người tham gia được cho bổ sung EPA hàng ngày bắt đầu với 1g/ngày trong tuần thứ nhất và tăng đến tối đa 6g/ngày từ tuần 4 đến lúc kết thúc nghiên cứu. Trước khi bổ sung, những bệnh nhân này đang mất trung bình 2 kg/tháng và đã mất trung bình 13% cân nặng bình thường của mình.

Sau 1 tháng bổ sung EPA, 16 bệnh nhân trở nên ổn định cân nặng hoặc tăng cân đôi chút. Một sự tăng cân trung bình 0,5 kg/tháng đã được quan sát sau 4 tuần bổ sung. Không có thay đổi có ý nghĩa trong tổng lượng nước cơ thể, và không tăng tỉ lệ phần trăm bệnh nhân có CRP tăng. Giống như trong nghiên cứu trước, EPA tinh khiết làm ổn định cân nặng ở bệnh nhân ung thư tụy và kìm hãm sự tiến triển của sụt cân. Tuy nhiên, tăng liều EPA hàng ngày tối đa từ 2g lên 6 g không tăng các tác động chống suy mòn.

Bảng dưới cung cấp một tổng kết bên-kề-bên của 2 nghiên cứu của Wigmore

dieu-tri-ung-thu

Nghiên cứu của Murphy 2011.

Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá tác động của can thiệp dinh dưỡng với EPA đối với cân nặng và thành phần cơ thể so với chăm sóc chuẩn trong quá trình hóa trị. N=40 bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ, theo dõi từ khi bắt đầu hóa trị đến kết thúc hóa trị.

  • Nhóm điều trị chuẩn n=24: chỉ nhận các thuốc hóa trị
  • Nhóm bổ sung dầu cá n=16: nhận thêm EPA 2,2 g/ngày kèm thuốc hóa trị

Các số đo kết quả: Thành phần cơ thể (cơ xương, mô mỡ) được theo dõi và phân tích bằng hình ảnh CT

Kết quả:
Bệnh nhân trong nhóm bổ sung duy trì được cân nặng (0,5±1,0 kg) trong khi các bệnh nhân trong nhóm chăm sóc chuẩn sụt trung bình là -2,3±0,9 kg (p=0,05).

Có một tương quan tuyến tính dương giữa thay đổi nồng độ EPA huyết tương và mức thay đổi mô cơ (r2=0,55; p=0,01).

dieu-tri-ung-thu dieu-tri-ung-thu

Khuyến cáo từ Hội Dinh Dưỡng đường Tĩnh mạch và đường Tiêu hóa Hoa Kỳ (ASPEN):

dieu-tri-ung-thu

Tổng kết lại, các nghiên cứu chứng minh rằng EPA làm giảm các tác động của các cytokine gây viêm và PIF, do đó làm giảm đáp ứng protein pha cấp (APPR), sự tăng chuyển hóa, và sự thoái giáng protein. Từ đó, các nhà nghiên cứu cho rằng cung cấp EPA kết hợp với sự bổ sung protein và năng lượng sẽ dẫn đến tăng cân thay vì chỉ ổn định cân nặng ở những bệnh nhân ung thư đang sụt cân. Suy luận này dẫn đến sự phát triển của công thức dinh dưỡng đặc hiệu cho bệnh nhân ung thư là ProSure®.